Di tích xã Bình Dương

10/12/2015 02:50 Số lượt xem: 3289

1. Đền Côn Nương.

Đền Côn Nương nay thuộc thôn Bùng Xá, xã Bình Dương, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Đây là nơi tưởng niệm sâu sắc về nữ tướng Côn Nương, có công đánh giặc giặc giữ nước ở thế kỷ thứ I sau Công nguyên.

          

Truyền rằng ngôi đền được xây dựng từ lâu đời và đã trải qua nhiều lần tu bổ tôn tạo. Hiện khu di tích đền thờ Côn Nương nằm trên một gò đất có tổng diện tích là 6363m2. Nơi đây có 2 công trình, một là đền, hai là chùa. Đền xưa kia làm theo kiểu chữ đinh, có 5 gian tiền tế và 3 gian hậu cung (5 gian tiền tế đã phá năm 1947 do tiêu thổ kháng chiến). Bên ngoài có 2 dãy tả vu, hữu vu mỗi bên là 3 gian, cũng đã tiêu thổ trong kháng chiến năm 1947.

Phía trước đền có sân và ao, kề bên còn có một ngôi chùa Khánh Linh, làm theo kiểu chữ đinh, 3 gian tiền đường, 2 gian tam bảo. Trước cửa chùa là sân và ao trồng sen, chùa cũng được xây dựng từ thời Lê. Trong chùa còn một quả chuông, có chiều cao là 65cm, đường kính 45cm. Chùa còn 8 pho tượng bằng gỗ và một pho Thích ca. Nhìn chung ngôi chùa còn tương đối cổ kính ở vùng này.

Khu đền phần hậu cung còn cơ bản nguyên vẹn gồm 5 gian tiền tế các cụ và nhân dân thôn Bùng mới tu tạo lại.

Hậu cung kết cấu kiểu chồng cốn, gỗ lim, lợp ngói mũi, tường gạch, nền lát gạch.

Khu di tích đền thờ Côn Nương luôn luôn được nhân dân thôn Bùng nói riêng và toàn vùng nói chung từ thế hệ này tới thế hệ khác có một ý thức gìn giữ và bảo vệ rất chu đáo những giá trị to lớn của lịch sử dựng nước và giữ nước của tổ tiên để lại. Đó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, chúng ta lớp con cháu càng phải trân trọng và bảo vệ tốt hơn nữa những giá trị lịch sử mà tổ tiên để lại.

Đền thờ Côn Nương còn lưu giữ được những tài liệu và đồ thờ quý hiếm như: hệ thống bia đá thời Nguyễn, bệ thờ đá, kiệu bát cống, long đao, chấp kích, bát bửu, giá văn, hộp sắc, mâm bồng; đặc biệt là 3 pho tượng thời Lê, sơn son thếp vàng lộng lẫy, chạm trổ rồng phượng hoa lá vô cùng đẹp đẽ.

Với những giá trị cơ bản trên đền Côn Nương đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa. Quyết định số: 921/QĐ – BT, ngày 20 tháng 7 năm 1994.

2.Đình làng Đìa.

Thôn Đìa vốn có tên chữ là “Bồng Trì” là một làng cổ rất lớn theo kiểu “nhất xã nhị thôn” gồm hai  thôn Đìa Trên và  Đìa Dưới, vào cuối  thời Nguyễn thuộc tổng Nhân Hữu, nay thuộc xã Bình Dương, huyện Gia Bình. Bề dày lịch sử, văn hiến của làng Đìa được kết tinh phản ánh ở ngôi đình làng.

          

Đình làng Đìa vốn được khởi dựng từ lâu đời, đến thời Nguyễn được trùng tu tôn tạo và còn để lại dấu ấn ở hậu cung trên câu đầu với dòng chữ Hán “Tự Đức thập nhị niên” (1859). Trong kháng chiến chống Pháp ngôi đình bị tiêu thổ. Năm 1992 dân làng phục dựng lại ngôi đình. Đến năm 2000 tiếp tục tu bổ tôn tạo và mang dáng vẻ truyền thống.

Hiện đình làng Đìa nằm ở giữa làng, là toà đại đình có kiến trúc kiểu chữ “Đinh” gồm tiền tế với các lớp mái ngói đao cong. Bộ khung gỗ được chạm khắc trang trí “tứ linh, tứ quý” và hoa lá cách điệu nghệ thuật.

Căn cứ vào tấm bia thần tích và bản “thần tích” chữ Hán có niên đại Vĩnh Hựu 6(1740) thì người được thờ tại đình làng là hai vị nhiên thần bản xã có tên huý “Cấn” và  “Liệt” có công phù giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Hán.

Đình làng Đìa còn bảo lưu được nhiều tài liệu cổ vật quý giá như sau: Bia đá lớn có tên “Thần tích phả lục bi ký” được dựng vào thời vua Duy Tân 9 ghi khắc lại bản Thần tích của Thành Hoàng làng; bản thần tích chữ Hán niên đại Vĩnh Hựu 6 (1740); bản thần tích, thần sắc được lý trưởng kê khai năm 1938 cho biết về 5 đạo sắc phong; 04 bia đá có tên: “ Hậu thần bi ký” niên đại Tự Đức 5 (1852), “ Hậu tự bi ký” niên đại Tự Đức 16 (1863), bia có tên“ Văn chỉ tòng bi ký” niên đại thời Nguyễn.

Giá trị của đình làng Đìa còn được thể hiện ở lễ hội truyền thống: Theo tục lệ hàng năm cứ đến ngày 10/3 âm lịch đình làng lại được mở hội. Trong những ngày lễ hội, sau phần lễ là phần hội với nhiều tục trò dân gian vui chơi giải trí thu hút đông đảo nhân dân địa phương vào những sinh hoạt văn hoá, văn nghệ vui tươi lành mạnh, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.

Với những giá trị trên, đình làng Đìa dược xếp hạng là di tích lịch sử - văn hoá Quyết định số 1489/ QĐ – UBND ngày 5/ 10/ 2009.

3.Cụm di tích đình, đền chùa làng Gia Phú.

Gia Phú là một thôn nằm ở phía Đông nam của xã Bình Dương, phía Đông giáp An Thịnh (huyện Lương Tài), phía Tây giáp Cẩm Xá, xã Nhân Thắng, phía Nam giáp Bà Khê, xã Phú Hoà (Lương Tài), phía Bắc giáp Bùng Trì (Đìa) và nằm ở phía Đông Đông nam của huyện Gia Bình. Đây là một vùng trũng của huyện, sự hình thành của dải đất này có nguồn gốc thuỷ thành, khởi dựng do dòng sông Thái Bình bồi tụ, vùng đất này cao dần lên, tạo độ nghiêng dần theo hướng Bắc – Nam và phân thành hai vùng rõ rệt là vùng đồng mầu và vùng chiêm trũng. Thời phong kiến ruộng đất hằng năm người nông dân chỉ cấy một vụ, thu hoạch bấp bênh, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Hiện nay ở phía Nam của thôn Gia Phú có sông Cửa Đền “thượng Đại Bái, hạ Nấu Khê, đi qua địa phận Bình Dương, đoạn này gọi là sông Cửa Đền”. Xưa thời kỳ đê Thái Bình chưa khép kín ở đoạn xã Minh Tân huyện Lương Tài, dòng sông này nối liền với sông Thái Bình, sông Cửa Đền đã cung cấp nguồn nước, nguồn phù sa cho đồng ruộng và là đầu mối giao thông vận tải thuỷ rất thuận tiện, chủ yếu là thuyền gỗ “còn gọi là thuyền mắt trâu” thường xuyên xuôi ngược buôn bán trao đổi các mặt hàng hoá thiết yếu phục vụ nhân dân. Hoà bình lập lại, nhân dân đắp đập sông Ngụ, sông Cửa Đền làm nhiệm vụ cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp.

Ngày xưa thôn Gia Phú ở cách thôn hiện nay khoảng 0,5km về phía Tây, chia thành nhiều xóm nhỏ (còn gọi là trại); trại Đồng Dưới, trại Cụ Háu, trại cụ Thủ Chính, trại sông Cửa Đền (trại Cửa Đền là di sản của phường Bái Giang cũ). Do kiến tạo của thiên nhiên, sông ngòi chảy xiết, cát sỏi phù sa lắng đọng ngưng tụ lại dẫn đến lòng sông Thái Bình già dần, hơn nữa hệ thống đê điều chưa có, hằng năm mùa nước lũ tràn về, địa hình dân cư ở thấp, nước ngập sâu, đường lầy lội đi lại gặp nhiều khó khăn. Nghề nghiệp ở đây chủ yếu là làm ruộng, đến vụ thu hoạch chủ yếu phơi thóc bằng nong, đi lại dùng thuyền nan, do vậy nhân dân các xóm đã tập trung ở vào một thôn gọi là Gia Phú.

Riêng trại Cửa Đền do làm nghề đánh bắt cá chuyên sâu và duy trì được đến năm 1976. Nghề đánh bắt cá đồng bị thu hẹp lại chuyển về ở tập trung lại tạo thành một thôn như ngày nay. Thôn Gia Phú còn gọi là Gia Phó, xưa còn gọi là Đồ Lỗ trang, huyện Gia Định, phủ Thuận An. Khi cấp tổng được thành lập, thôn Gia Phú thuộc tổng Nhân Hữu. Tổng Nhân Hữu thời Nguyễn gồm các xã: xã Nhân Thắng (làng Đoài), xã Cầu Đào (làng Ngụ), xã Lê Lợi (làng Lời), xã Cẩm Xá (làng Vối), xã Ngô Cương (làng Ngò) thành xã mới là xã Nhân Hữu. Xã Hương Triện, xã Khoái Khê thành xã Hương Khê. Đầu năm 1947 lại sáp nhập thành xã Nhân Thắng. Tách xã Gia Phú, xã Phùng Trì, xã Phương Độ thành xã Bình Dương. Năm Minh Mệnh 4 (1823) huyện Gia Định đổi tên thành huyện Gia Bình. Tháng 9 năm 1945 thôn Gia Phú thuộc xã Bình Dương, huyện Gia Bình cho đến nay.

Gia Phú là mảnh đất có bề dày hàng ngàn năm lịch sử, trong quá trình dựng nước và giữ nước nhiều danh nhân cùng với toàn dân đã đóng góp vào sự nghiệp chung giải phóng dân tộc mà sử sách mãi ghi truyền. Cụm di tích trong thôn trải qua bao năm tháng biến động của quê hương, đất nước đến nay vẫn được nhân dân địa phương bảo vệ và lưu giữ. Đó là đình Đông, đình Tây, đền và chùa của làng.

- Đình Đông:

Đình Đông khởi thủy nằm ở vị trí phía Nam của làng, giáp với sông Cửa Đền, đây là nơi tôn thờ tưởng niệm về đức thánh Ả Nương có công âm phù vua Lê Đại Hành đánh giặc Tống xâm lược.

       

Vào khoảng thế kỷ XVI – XVII, do đình nằm gần sông, thường xuyên bị ngập nước nên nhân dân địa phương đã chuyển đình về vị trí hiện nay, vì vậy đình còn được gọi là đình Trong hay đình Mới. Khi ấy đình có quy mô lớn gồm 7 gian đại đình, 3 gian hậu cung với các cột lim to và chắc khỏe, hai bên là hai dải vũ mỗi bên 3 gian, hệ thống cột ở 2 dải vũ toàn bằng đá, ngoài ra phía trước đình còn có một táp môn (bình phong), 2 bên táp môn là 2 cột đồng trụ. Trải qua thời gian đình đã được tu bổ nhiều lần, đến tháng 4 năm 1947 đình đã bị dỡ bỏ để làm hầm, phục vụ cho kháng chiến chống Pháp. Khoảng năm 1957 nhân dân địa phương dựng lại 3 gian đình nhỏ để thờ đức Bà, đến năm 2001 công trình được dựng lại trên nền đất cũ của đình xưa gồm 2 tòa; đại đình và hậu cung, kết cấu kiến trúc kiểu chữ đinh quay theo hướng Nam.

Đại Đình gồm 5 gian có kích thước dài 15,3m, rộng 9,4m, khung gỗ lim, dọc 4 hàng cột, ngang 6 hàng cột, vì theo kiểu giá chiêng, phía trước 3 gian mở cửa ván ghép, hai bên xây gạch, trổ cửa theo kiểu chữ thọ tròn. Bên trong đại đình ở ban thờ giữa đực bài trí hương án, trên hương án đặt đỉnh đồng, bát hương, nến đồng... phía trên treo bức đại tự: “Khôn đức trinh nguyên” (Đức hạnh của ngài trong trắng), “Vạn cổ anh linh” (muôn đời linh thiêng). Hai bên 2 đôi câu đối:

Hương hỏa thiên thu âm tục Tống

Phong ba nhất trận mặc phù Trần

(Ngàn năm hương hỏa thần âm phù đánh giặc Tống

 Một trận phong ba lặng lẽ giúp đỡ nhà Trần)

Nam Hải hiển linh mặc hộ Trần triều chiêu thánh tích

Bái giang thắng cảnh thượng lưu bản địa tối linh từ

(Nam Hải hiển linh giúp đỡ nhà Trần đánh giặc, thật rõ rệt ở cái tích của đức thánh

Dòng sông Bái là thắng cảnh đẹp vùng thượng lưu, địa phương có một ngôi đền rất linh thiêng)

Phía sau hương án là ban thờ nhỏ bài trí các đồ thờ tôn nghiêm, phía trên ban thờ có bức hoành phi: “Thượng đẳng thần”.

Hậu cung gồm 2 gian, kích thước rộng 4,7m, sâu 7,85m, kiến trúc vì đơn giản. Bên trong có một ban thờ được xây bằng gạch, trên ban gạch bài trí long đình, trong long đình đặt tượng đức thánh Ả Nương, tượng được tạc trong tư thế ngồi, khuôn mặt hiền từ phúc hậu, mắt khép hờn nhìn thẳng, đầu đội mũ ô xa, mặc áo 3 lớp, ở bên 2 bờ vai áo kết hoa cách điệu, tay trái để hờ úp lên đầu gối trái, tay phải ngón cái và ngón trỏ chạm nhau và đặt cao trên đầu gối phải. Tượng được tạc bằng chất liệu gỗ, niên đại khoảng thế kỷ XVIII – XIX. Phía trước tượng đức Ả Nương có 2 nàng hầu tạc trong tư thế đứng cao 58cm mặc áo dài thụng, lưng thắt đai xanh, trên tay bê hài hộp trong tư thế dâng chầu.

Phía trước bên trái đình là nhà bia làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái và một tấm bia đá ghi khắc sự tích của đức Ả Nương. Đây là sản phẩm của những tấm lòng hảo tâm của con em địa phương và sự quan tâm của Nhà nước đầu tư xây dựng vào năm 2007.

Đình Đông – Gia Phú đã được UBND tỉnh xếp hạng năm 2006.

-Đình Tây.

Nguyên xưa đình có quy mô to lớn gồm 5 gian 2 chái 4 mái đao cong, hậu cung 3 gian tất cả được nát bằng sàn gỗ, 2 bên có hai nhà tảo xá mỗi bên 3 gian, tất cả nằm trong khuôn viên đình rộng rãi, vào khoảng năm 1949-1950 đình bị phá huỷ do tiêu thổ kháng chiến. Đến năm 1994 - 1995 nhân dân địa phương xây dựng lại như hiện nay gồm 3 gian tiền đường, 3 gian hậu cung, kiến trúc chữ đinh, quay theo hướng Đông nam.

             

Toà tiền đường có kích thước dài 6,6m, rộng 4,5m vì theo kiểu quá giang gác tường đơn giản, bước cột các gian trung bình là 2,2m, trước là hệ thống cửa ván ghép, phía trước 2 bên là 2 cột đồng trụ. Bên trong bài trí các đồ thờ tự tôn nghiêm, các cột có hệ thống câu đối ca ngợi về tấm lòng chính khí, công lao, đức độ, giúp các triều đại đánh giặc và được sử sách ghi chép của nhân vật thờ trong di tích.

Hậu cung gồm 3 gian có kích thước sâu 6,2m, rộng 3,5m khung gỗ đơn giản. Bên trong hậu cung được bài trí tôn nghiêm trên một bệ được xây bằng gạch gồm ngai thờ, bài vị thế kỷ XIX, bình hương, đẳng tế...

Đình Tây là nơi thờ phụng, tưởng niệm đức thánh Côn Lang, có công dẹp gặc vào thời vua Hùng Duệ Vương, sau khi mất lại hiển ứng linh thiêng âm phù các đời vua đánh giặc bảo vệ nền độc lập của dân tộc, được triều đình phong sắc và ban mỹ tự, chuẩn cho thờ phụng muôn đời.

- Đền.

              

         Đền Gia Phú nằm ở phía Nam của làng, giáp với sông Cửa Đền, xưa đền có quy mô to lớn gồm nhiều hạng mục công trình, trải qua thời gian nay đền chỉ còn lại phần hậu cung cũ, gồm 3 gian xung quanh xây gạch, phía trước được trang trí kiểu cánh phong trên có chữ “Thượng đẳng từ”, hai bên có 2 cột đồng trụ ghi đôi câu đối:

Hương hoả thiên thu âm đức Tống

Phong ba nhất trận mặc phù Trần

Bên trong đền được bài trí khám thờ xây bằng gạch vữa, ngoài cửa cấm được làm bằng đá xanh nguyên khối, 2 bên có đôi câu đối chạm nổi vào năm Giáp Ngọ (tức năm 1834 hoặc năm 1894), nội dung:

Trung chi hình thắng địa

Thượng đẳng hiển linh từ

Bên trong được bài trí một số đồ thờ như bát hương, mâm bồng tôn nghiêm.

- Chùa Gia Phú (Gia Linh tự)

Chùa Gia Phú nằm trong một khu đất cao và rộng ở phía Tây của làng quay theo hướng Tây, trong khuôn viên chùa hiện nay có các công trình tam bảo, nhà tổ, nhà khách, nhà mẫu và các công trình phụ.

            

Toà Tam bảo dựng trên một mặt nền khá cao trước mặt có khoảng sân nhỏ lát gạch chỉ mặt ngoài có tường bao quanh. Nhà tam bảo có bình đố kiến trúc hình chữ đinh gồm 5 gian tiền đường và 3 gian thượng điện. Tiền đường được xây theo lối bình đầu hai mái, kết cấu bộ vì đơn giản kiểu quá giang gác tường, hai gian hồi xây kín. Trong nhà tiền đường bài trí tượng Đức Ông ở  bên trái, tượng Thánh Tăng và ở bên phải. Cả hai pho tượng được tạc khá đẹp, hai pho Đức Ông và Thánh Tăng tạc ở thế ngồi, tất cả đều được tạo tác công phu, cân đối, các đường nét đục chạm miêu tả chân dung sinh động có hồn.

Nối vào tiền đường là ba gian thượng điện, phía ngoài cùng trên bộ vì đều có gắn ván bưng chạm khắc hoa văn mềm mại, phía trên treo bức hoành phi: Y chính trang nghiêm. Trên thượng điện xây bệ đặt phật tượng gồm có 4 tầng đặt các bộ tượng phật được tạo tác khá công phu, ngoài 4 pho tượng mới bổ sung các pho còn lại đều là những tác phẩm nghệ thuật tạo hình của triều Nguyễn.

Nhà tổ gồm 5 gian mới được xây dựng năm 2009, kiến trúc theo kiểu quá giang gác tường đơn giản, gian giữa bài trí 3 pho tượng của phái Trúc Lâm gồm; Trần Nhân Tông, Huyền Quang và Pháp Loa.

Nhà mẫu gồm 3 gian mới được xây dựng năm 2005, kiến trúc theo kiểu quá giang gác tường đơn giản, bên trong bài trí tượng đức Thánh Trần, mẫu Liễu Hạnh, mẫu Thoải và chúa Thượng Ngàn.

Nhìn chung, chùa làng Gia Phú là công trình văn hoá đẹp, riêng phần Thượng điện được bảo tồn khá nguyên vẹn, trên các cột cái trong thượng điện còn ghi khắc tên người công đức bằng chữ Hán khi tu sửa chùa như: Tri phủ 2 xứ về hưu kiêm lão nhiêu Nguyễn Đình Kiêm, tự Phúc Cần, hiệu Phúc Năng cùng vợ và con cháu công đức 1 cột, ông Lê Kiêm Thu, tự Phú Gia người bản xã cùng vợ là Lê Thị Bình công đức 1 cột...

Cụm di tích đình Tây, Đền, Chùa là công trình tín ngưỡng văn hoá tiêu biểu của nhân dân địa phương được khởi dựng từ lâu, đến thời Lê, Nguyễn được trùng tu tôn tạo và đến nay vẫn giữ vai trò quan trọng đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của địa phương - nơi duy trì những phong tục tập quán tốt đẹp trong đời sống của nhân dân nơi đây.

Với những giá trị đó, cụm di tích đình Tây, Đền, Chùa thôn Gia Phú đã được UBND tỉnh Bắc Ninh ra quyết định xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá, Quyết định số 482/QĐ-UBND, ngày 14/4/2010.

4.Đình Phương Độ.

Đình Phương Độ toạ lạc trên khu đất có phong cảnh thiên nhiên đẹp nằm ở giữa làng, nay thuộc thôn Phương Độ, xã Bình Dương, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Đây là công trình văn hoá tín ngưỡng tiêu biểu, nơi phản ánh rõ nét về bề dày lịch sử và truyền thống văn hoá của quê hương nơi đây.

            

Theo truyền kể, đình Phương Độ được khởi dựng vào khoảng đầu thời Lê Trung Hưng, đến thời Nguyễn được tu bổ tôn tạo lớn với nhiều toà ngang dãy dọc, là một trong những ngôi đình to đẹp trong vùng. Hiện trên thượng lương của hậu cung còn những dòng chữ Hán “Nhâm Thìn niên sùng tu” (Năm Nhâm Thìn (1940) sửa sang tu tạo) và “Tuế thứ Giáp Tuất niên tứ nguyệt sơ tứ nhật đại cát tu tạo” (Ngày đẹp mồng 4 tháng 4 năm Giáp Tuất tu bổ tôn tạo) đã cho biết chính xác thời điểm tu bổ đình. Tiếc rằng, trong kháng chiến chống Pháp (1949), nhiều hạng mục của đình như tiền tế, tiền đình, dải vũ đã được tiêu thổ để đáp ứng yêu cầu của cách mạng, chỉ còn giữ lại phần hậu cung. Hoà bình lập lại, nhân dân địa phương cùng nhau góp công, góp của dựng lại toà tiền đình trên nền xưa đất cũ. Hiện nay đình Phương Độ có kết cấu kiểu chuôi vồ gồm 5 gian tiền đình và 3 gian hậu cung, hướng nam. Bộ khung đình được làm bằng gỗ lim, trên các bộ phận của kiến trúc như vì nóc, cốn, con rường được trang trí chạm khắc các đề tài truyền thống như long, ly, quy, phượng và hoa lá vân mây cách điệu.

Căn cứ vào bản “thần tích, thần sắc” của làng Phương Độ kê khai năm 1938 hiện còn lưu giữ tại Viện Thông tin khoa học xã hội Hà Nội, đặc biệt là căn cứ vào 10 đạo sắc phong hiện còn bảo lưu được tại địa phương, đình Phương Độ thờ nhị vị thần là Quý MinhLinh Lang đại vương. Qua nghiên cứu, tham khảo các tư liệu sử sách của nhà nước và các làng xã trong vùng, lai lịch, công trạng của các vị Thần ở làng Phương Độ có thể hiểu như sau:

-Về đức Thánh Quý Minh : nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: thần Quý Minh hay Quý Minh đại vương là tên gọi của một vị thần trong truyền thuyết của người Việt Nam. Theo tín ngưỡng này, Sơn Tinh, Thần Cao Sơn và thần Quý Minh là bộ ba thần núi đứng hàng đầu Việt Nam, đều là hậu duệ của Lạc Long Quân, Âu Cơ. Cũng giống như các truyền thuyết về thần Cao Sơn, thần tích, nguồn gốc thần Quý Minh ở các đền, đình có nhiều dị bản. Tuy nhiên các bản thần tích đều nói rõ rằng đức Quý Minh là danh thần có công đánh giặc vào thời vua Hùng Duệ Vương (tức đời Hùng Vương thứ 18). Hiện nay đình Phương Độ lưu giữ được 8 đạo sắc có niên đại thời Lê và Nguyễn phong cho Thánh Quý Minh cùng đôi câu đối ca ngợi công lao của ngài: “Lạc quốc ức niên ân bảo chiếu/ Ô Châu nhất trận lẫm hồng uy”.

-Về đức thánh Linh Lang: Cũng như đức thánh Quý Minh, sự tích, nguồn gốc thánh Linh Lang ở các đền, đình có nhiều dị bản. Tuy nhiên phần lớn các tài liệu đều cho rằng ngài là con của vua Lý, võ nghệ cao cường, từng theo vua cha đi đánh giặc Chiêm Thành và có công lớn trong cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược vào năm 1077. Hiện nay đình Phương Độ còn lưu giữ được 2 đạo sắc có niên đại thời Nguyễn phong cho đức Thánh Linh Lang.

Đình Phương Độ còn bảo lưu được nhiều tài liệu hiện vật quý như thần tích, sắc phong, bia đá, hệ thống hoành phi, câu đối, ngai thờ, bài vị, bát hương, cây đèn…có niên đại thời Lê và Nguyễn, trong đó đặc biệt quý giá là 10 đạo sắc phong.

Lễ hội truyền thống đình Phương Độ được tổ chức vào ngày 12 tháng 10 âm lịch hàng năm, tục gọi là vào đám; năm nào được mùa, hội kéo dài đến ngày 15. Trong những ngày hội, nhiều nghi thức tế rước được tổ chức rất trang nghiêm thể hiện sự thành kính, biết ơn của nhân dân đối với các vị Thần, bên cạnh đó còn là phần hội với nhiều trò chơi dân gian vui nhộn như: đu cây, cờ người, hát chèo, ả đào…thu hút đông đảo nhân dân địa phương hướng về cội nguồn, đoàn kết cộng đồng làng xã, góp phần giáo dục các truyền thống tốt đẹp của quê hương cho thế hệ sau.

Với những giá trị cơ bản đó, di tích đình Phương Độ đã được UBND tỉnh Bắc Ninh cấp bằng công nhận là di tích lịch sử- văn hoá. Quyết định số 1139/QĐ-UBND ngày 27 tháng 8 năm 2010.